Secoin Portal
Đang tải dữ liệu...

 Nội bộ | Liên hệ | Sơ đồ trang | English 
Trang chủ 
Giới thiệuSản phẩmTin tứcChia sẻTuyển dụngHỗ trợ
Gạch và ngói
Thiết bị công nghiệp
Sản phẩm sinh học
Tầm nhìn SECOIN
Sản phẩm trầm hương
Tinh dầu & hương trị liệu
Dược thảo và các cây quý
Cây nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học
Nhà máy xanh và cư xá xanh
Nuôi trồng thủy sản
Canh tác hữu cơ & nông nghiệp chính xác
Ứng dụng sản phẩm Nano sinh học
Các sản phẩm phi vật thể
Nhà lắp ghép nhanh
Công ty CP VLXD Secoin
Secoin Sài Gòn
Secoin Hưng Yên
Secoin Hà Tây
Công ty CP Đầu tư Secoin
Secoin-CDT
Secoin Quảng Ninh
Secoin Hà Tĩnh
Secoin Sa Pa

                                                                                                                    

Phát triển nhiên liệu sinh học

(Bàn về sự ra đời của Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007 về việc phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”)

PGS. Đinh xuân Bá

Nhiên liệu sinh học là gì, ra đời từ bao giờ, lợi ích và hạn chế của nó ?

Có định nghĩa được từ nhiên liệu sinh học (NLSH, biofuel) thì mới xác định được phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007. Nói nôm na, NLSH là nhiên liệu có nguồn gốc từ sinh khối (biomass), tức là từ thực vật, động vật và các sản phẩm phụ của chúng. NLSH có thể ở dạng lỏng, rắn hay khí.

Có nhiều cách phân loại NLSH (ví dụ NLSH thế hệ thứ nhất, NLSH thế hệ thứ hai), nhưng theo chúng tôi để dễ vận dụng và dễ hiểu, có thể tạm chia NLSH thành 3 loại (tuy chưa thật rạch ròi) như sau:

a. NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp vốn là lương thực thực phẩm (edible energy crops), ví dụ: ngô, đậu tương, sắn, cải dầu, lúa mì, củ cải đường, mía, dầu cọ, lúa miến (sorghum), mù tạc,..

b.NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp không phải lương thực thực phẩm (non-food energy crops), ví dụ: hạt Cọc rào ( Jatropha curcas L.), cỏ kê Mỹ (Switchgrass hay Panicum virgatum ), cỏ trâu ( Buffalograss hay Buchloe dactyloides ), tảo,..

c. NLSH làm từ phế thải phân huỷ được từ sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, nhà hàng ăn uống, khu dân cư, ví dụ: mỡ động thực vật, thức ăn thừa, mùn cưa, vỏ bào, thân cây ngô, rơm rạ, trấu, phân khô, rác,..

Hiện nay các sản phẩm NLSH phổ cập trên thế giới là:

- Diesel sinh học (biodiesel) viết tắt là BD

- Cồn sinh học (bioalcohol): bioethanol, biobutanol, biomethanol, trong đó nổi bật là Ethanol sinh học (bioethanol) viết tắt là BE

- Nhiên liệu sinh học rắn (solid biofuel), trong đó nổi bật là Gỗ Viên (wood pellet)

BD đã manh nha xuất hiện rất sớm từ 1853 do công trình nghiên cứu của E. Duffy và J. Patrick về chuyển hoá ester của dầu thực vật, nhưng BD chỉ được chính thức ghi nhận vào ngày 10/8/1893, ngày mà kỹ sư người Đức Rudolf Christian Karl Diesel cho ra mắt động cơ diesel chạy bằng dầu lạc, sau đó ngày 10/8 được chọn là Ngày Biodiesel quốc tế (International Biodiesel Day). Đến 1907 Henry Ford, người sáng lập công ty đa quốc gia Ford Motor Company, cho ra đời chiếc xe ôtô chạy bằng Ethanol. Nhưng do giá xăng dầu khai thác từ nhiên liệu hoá thạch còn rất rẻ nên NLSH chưa được coi trọng. Đến đầu thế kỷ này, do giá xăng dầu tăng nhanh, nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu hoá thạch đe doạ và yêu cầu bức thiết về chống sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì NLSH trở thành một nhu cầu thiết thực của nhân loại, nhất là khi các công nghệ biến đổi gien góp phần làm tăng đột biến sản lượng một số sản phẩm nông lâm nghiệp.

Khác với nhiên liệu hoá thạch (than, xăng, dầu, khí,...), NLSH là một loại năng lượng tái tạo được (renewable energy). NLSH góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. NLSH làm giảm ít nhất 60% lượng carbon thải ra so với nhiên liệu hoá thạch. Riêng BD làm giảm 50% lượng CO và 78% lượng CO 2 thải ra so với nhiên liệu hoá thạch, BD hoàn toàn không thải ra SO 2 nhưng lại thải ra lượng N 2 O nhiều hơn so với diesel hoá thạch. Tuy nhiên, NLSH lại có thể tạo ra nguy cơ về an ninh lương thực. Ông Jean Ziegler, người phát ngôn về lương thực của Liên Hiệp Quốc thậm chí còn kêu gọi tạm dừng sản xuất NLSH trong 5 năm để tránh một “thảm hoạ” về nạn đói. Tại Trung quốc, có lẽ do phát triển NLSH nên giá ngô tăng cao liên tục, vì vậy họ đang điều chỉnh lại hướng phát triển NLSH. Ở nước ta, an ninh lương thực là ưu tiên số một trong chính sách sử dụng đất, nên cần sáng suốt chọn lọc hướng phát triển NLSH, nên chăng khuyến khích sản xuất NLSH loại b và c nói trên, chỉ sản xuất NLSH loại a với chừng mực hợp lý. Hơn nữa nên hạn chế dùng đất nông nghiệp để trồng nguyên liệu cho NLSH (trong 20 năm qua đã có 3% đất nông nghiệp bị lấy để phát triển công nghiệp, dự báo đến 2020 con số này là 10%). Ở nước ta, để trồng cây cho NLSH (còn gọi là cây năng lượng, energy crops), cần tận dụng đất hoang hoá (có lẽ có khoảng 9,3 triệu hecta), đất đồi núi chưa sử dụng (có lẽ có khoảng 4,3 triệu hecta) và rà soát lại 3 loại rừng để dành thêm đất cho rừng sản xuất. Ngoài ra hiện nay có 8,1 triệu hecta đất lâm nghiệp đã được giao phân tán, do đó cần có chính sách và phương thức thích hợp tích tụ đất lâm nghiệp để trồng cây năng lượng. Nếu được như vậy thì sẽ tốt nhiều mặt, kể cả tăng cường an sinh xã hội.

Tình hình phát triển nhiên liệu sinh học trên thế giới và tại các nước láng giềng ?

Nói riêng về diesel sinh học, sản lượng BD trên toàn cầu từ năm 1991 đến 2005 là: năm 1991 có sản lượng BD là 11 triệu lít, 1992 88 triệu lít, 1993 143 triệu lít, 1994 283 triệu lít, 1995 408 triệu lít, 1996 546 triệu lít, 1997 570 triệu lít, 1998 587 triệu lít, 1999 719 triệu lít, 2000 893 triệu lít, 2001 1068 triệu lít, 2002 1488 triệu lít, 2003 1832 triệu lít, 2004 2196 triệu lít, 2005 4125 triệu lít, sản lượng tăng theo hàm số mũ, nhất là sau khi có Nghị định thư Kyoto. Trong 4125 triệu lít của năm 2005, Đức chiếm 46,57%, Pháp 13,5%, Mỹ 6,88%, Ý 5,5%, Thụy Điển 3,3%, Áo 2,06%, Tây Ban Nha 2,04%, Đan Mạch 1,94%, Ba Lan 1.94%.

Mỹ chủ trương dùng BE10 (pha 10% bioethanol vào xăng hoá thạch) cho tất cả các xe trên toàn nước Mỹ vào năm 2010. Về diesel sinh học, năm 1998 Mỹ sản xuất được 380 m 3 BD, năm 1999 sản xuất 1893 m 3 BD, năm 2002 sản xuất 13.250 m 3 BD thì năm 2005 Mỹ sản xuất 283.906 m 3 BD, tức là nhiều gấp 150 lần so với năm 1999. Về Ethanol sinh học, sản lượng BE của Mỹ từ năm 1998 đến 2006 là: năm 1998 6442 triệu lít, 1999 6620 triệu lít, 2000 7275 triệu lít, 2001 8885 triệu lít, 2002 10246 triệu lít, 2003 11738 triệu lít, 2004 13793 triệu lít, 2005 16415 triệu lít, 2006 20795 triệu lít, sản lượng cũng tăng theo hàm số mũ. Ngày 19/12/2007 chúng tôi nhận được từ một công ty Mỹ một thư hỏi mua BD100 làm từ dầu Cọ và từ hạt Cọc rào với khối lượng mua hàng tháng là 15 triệu lít.

Năm 2002, 27 nước châu Âu sản xuất 1.065.000 tấn BD thì năm 2006 27 nước đó sản xuất 4.890.000 tấn BD, dự kiến năm 2007 sản xuất 10.289.000 tấn BD. Về Ethanol sinh học, sản lượng BE của EU từ năm 2000 đến 2005 là: năm 2000 231590 tấn, 2001 268435 tấn, 2002 382586 tấn, 2003 424494 tấn, 2004 422724 tấn, 2005 722412 tấn.

Canada nhắm mục tiêu đến năm 2010 sẽ dùng BE10 cho 45% tổng tiêu thụ nhiên liệu toàn quốc. Theo Biodiesel Bulletin (Volume 1, Issue 4, 5/2007) chính phủ Canada dành 2 tỉ đô la Canada hỗ trợ phát triển NLSH, trong đó 500 triệu dành cho nghiên cứu thế hệ mới của NLSH.

Trung quốc dự định cho đến năm 2010 sẽ trồng 13 triệu hecta cây Cọc rào. Các nhà máy ở 3 tỉnh phía nam Trung quốc trong năm 2006 đã sản xuất 50.000 m 3 BD, năm 2007 riêng công ty Yunnan Shenyu New Energy đã trồng 20.000 hecta cây Cọc rào và xây một nhà máy sản xuất dầu Jatropha thô và BD với công suất 100.000 tấn/năm.

Bây giờ xin nói đến các nước Đông nam Á láng giềng. Thái Lan ưu tiên cho việc sản xuất BD từ dầu Cọ, hiện nay Thái sản xuất BD từ dầu Cọ với sản lượng 500.000 lít/ngày, họ dự kiến đến năm 2012 sẽ nâng công suất loại BD này lên 8,5 triệu lít/ngày với tổng diện tích trồng cây Cọ lên 10 triệu rai (1,6 triệu hecta). Diện tích trồng cây Cọc rào hiện nay chỉ mới có 1600 hecta, với giá bán hạt Cọc rào khoảng 4-5 baht/kg, nhưng thường được bán cho Trung quốc vì giá thành sản xuất tại Thái một lít BD từ hạt Cọc rào xấp xỉ giá bán lẻ diesel hoá thạch. Chính phủ Thái Lan rất coi trọng việc phát triển NLSH, cụ thể là ngày 19/2/2007 Bộ năng lượng Thái Lan đã quyết định thành lập Văn phòng phát triển NLSH (Bureau of Biofuel Development) thuộc Cục DAEDE (Department of Alternative Energy Development and Efficiency). Giống như Thái Lan, Indonesia và Malaysia chủ yếu sản xuất BD từ dầu Cọ, tuy rằng đã có các nhà khoa học của Indonesia cảnh báo về sự huỷ hoại môi trường sống của các động vật hoang dã quí (hổ, tê giác,...) do việc đốn hạ cây Cọ tràn lan. Gần đây họ đã hướng sự chú ý tới việc sản xuất BD từ hạt Cọc rào. Năm 2007 tập đoàn D1 Oil Plc (Hà Lan) đã hợp tác với 3 công ty Indonesia (PT Astra Agro Lestari, PT Medco Energi International, PT Mambruk Sarana Interbuana) để triển khai trồng thử nghiệm 1000 hecta cây Cọc rào. Tại Malaysia đang có các công trình nghiên cứu có ý nghĩa về giống Cọc rào cao sản G168, G188 được thực hiện dưới sự chỉ đạo của ông Bobby Thean Soo Tee, nhà khoa học của Asiatic Center for Genome Technology Sdn. Bhd (ACGT). Gần đây Philippines hướng sự chú ý vào cây Cọc rào, Mindanao Cultural and Economic Develpment Foundation hứa dành 200.000 hecta để trồng cây năng lượng nhằm sản xuất diesel sinh học. Được khuyến khích bởi các chính sách hỗ trợ phát triển NLSH của chính phủ Philippines, ngày 15/12/2007 hãng Bionor Transformacion S.A. của Tây Ban Nha đã ký hợp đồng liên doanh với Philippines để đầu tư 200 triệu USD trồng 100.000 hecta cây Cọc rào và chế biến BD. Chính phủ Campuchia dự định dành 40.000 hecta cho dự án sản xuất diesel sinh học từ hạt Cọc rào, dự án này được triển khai bởi trường Đại học MVU (Maharishi Vedic University) và tổ chức Biodiesel Cambodia, hai tổ chức này nhận được sự hỗ trợ thiết thực của chính phủ Campuchia và một quỹ của Úc có tên tắt là AACF (Australian Aid for Cambodia Fund). Ngoài ra công ty SODECO của ông Hak và bà Saumura Tioulong đang có thành công bước đầu trong việc gây giống Cọc rào cao sản mới tại 7 trang trại thử nghiệm.

Việt nam đã làm gì để phát triển nhiên liệu sinh học ?

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ này, một số nhà khoa học Việt nam đã để tâm nghiên cứu về NLSH, ví dụ: Gs. Nguyễn văn Trương (Viện kinh tế sinh thái), PGs. Đỗ Huy Định (Công ty phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ APP), PGs. Nguyễn Hữu Quang (Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp), Ts. Thái xuân Du (Phòng công nghệ tế bào thực vật, Viện sinh học nhiệt đới), Ts. Lê Võ Định Tường (Phân viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên), ông Nguyễn Công Tạn (chủ tịch Hội đồng sáng lập trường Đại học Thành Tây),…Họ đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm có giá trị thực tiễn, trên cơ sở đó đã có nhiều đề xuất thiết thực, kể cả các Đề án nghiêm túc trình Chính phủ và các Bộ liên quan về phát triển và sử dụng NLSH ở Việt nam. Chúng tôi nghĩ rằng trong Quyết định 177/2007/QĐ-TTg có chứa đựng các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học nói trên và của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý khác mà chúng tôi không được biết.

Cũng đã có không ít công ty và hợp tác xã Việt nam mạnh dạn đầu tư để triển khai các thử nghiệm trồng cây năng lượng và chế biến NLSH theo cả 3 hướng a, b, c nói trên, chẳng hạn:

- Công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen đang thực hiện dự án trồng 5000 hecta cây Cọc rào tại tỉnh Kon Tum và mở nhà máy sản xuất BD, tổng vốn đầu tư là 2 triệu USD

- Công ty Minh Tú đang thử nghiệm trồng cây Cọc rào và chế biến BE từ mỡ cá

- Công ty Đoàn Minh Giang đang thực hiện trồng thực nghiệm cây Cọc rào tại Sơn La

- Công ty Hiếu Giang đang trồng thử nghiệm 170 hecta cây Cọc rào tại vùng đồi núi cằn cỗi của xã Tà Nang, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

- Công ty Minh Sơn đang gây giống cây Cọc rào từ các hạt gíông lấy tại nhiều địa phương Việt nam và hạt giống của Trung quốc đã qua tuyển chọn

- Công ty Đức Việt đang có kế hoạch hợp tác với nhà đầu tư Đức để phát triển NLSH

- Công ty Núi Đầu đang triển khai dự án trồng cây Cọc rào tại Lạng Sơn

- Công ty đầu tư phát triển năng lượng thiên nhiên đã gây giống và đang bán cây giống Cọc rào tại vườn ươm Phú Thọ

- Công ty SECOIN đang có vườn ươm giống cây Cọc rào từ hạt giống bản địa, hạt giống nhập từ Ấn độ, Australia và đang nghiên cứu công nghệ sản xuất gỗ viên

- Một số hợp tác xã tại Sơn La, Kon Tum, Bình Thuận,… cũng đang xây dựng các vườn ươm cây giống Cọc rào.

Tuy đã có vài công ty nước ngoài (Đức, Israel , Hàn quốc,…) đến Việt nam để nghiên cứu hợp tác hoặc liên doanh phát triển NLSH, nhưng mới ở giai đoạn thăm dò, vả lại chưa có công ty nước ngoài nào có tầm cỡ như những công ty đã đầu tư vào Philippines Indonesia trong lĩnh vực NLSH. Trong 3 tháng nay chúng tôi đang thương lượng một hợp đồng liên doanh với hai đối tác nước ngoài về sản xuất BD, nhưng còn vướng rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết sớm được. Chúng tôi hy vọng rằng Quyết định 177/2007/QĐ-TTg và các văn bản thực thi đi kèm sẽ vừa tạo cho các pháp nhân Việt nam điều kiện thuận lợi vừa mở ra một kênh hấp dẫn mới cho đầu tư nước ngoài vào Việt nam để sản xuất NLSH.

Hà nội, ngày 3 tháng 1 năm 2008

PGS. Đinh xuân Bá

Chủ tịch HĐQT công ty SECOIN

59 Hàng Chuối, Quận Hai Bà Trưng, Hà nội

Tel: 04-9718899, Mobile : 0913207676

E-mail: dxb@secoin.vn

URL: www.secoin.vn

Số lượt đọc:  2118  -  Cập nhật lần cuối:  06/06/2009 10:57:15 AM
Tìm kiếm
Liên kết nhanh
Tài nguyên
Thư viện ảnh
Bản tin tháng